JA Teline V - шаблон joomla Форекс

Rafael Moneo là một kiến trúc sư Tây Ban Nha có ảnh hưởng rất lớn đến nền Kiến trúc Thế Giới vào cuối thế kỉ trước, ông là bậc thầy với hiểu biết uyên thâm về học thuật và thiết kế, ông được đánh giá cao bởi những nhà phê bình kiến trúc, các Kiến trúc sư… Tuy cũng giành giải Pritzker (năm 1996) nhưng tên tuổi của ông không được nhiều người biết đến như IM Pei, Frank Gehry hay Robert Venturi, một phần vì ông không có quá nhiều công trình trong sự nghiệp thiết kế của mình, cũng có thể là do ông hoạt động trên nhiều khía cạnh của kiến trúc, và có lẽ, do phong cách kiến trúc Chiết trung mà ông theo đuổi quá đa dạng, khó nắm bắt.

Rafael Moneo tên đầy đủ là José Rafael Moneo Vallés sinh năm 1937 tại Tây Ban Nha, ông được biết đến với nhiều vai trò như kiến trúc sư, nhà lý thuyết kiến trúc và giáo sư Đại học. Mặc dù là một trong những nhân vật quan trọng nhất của kiến ​​trúc Tây Ban Nha, tuy nhiên niềm đam mê ngày niên thiếu của Moneo lại là về triết học và hội họa. Chính bố ông – một kỹ sư đã truyền niềm đam mê và hướng cho ông học Kiến trúc tại Trường Đại học Kỹ thuật Madrid. Tại đây, ông chịu ảnh hưởng mạnh từ giáo sư môn Lịch sử Kiến trúc của ông – giáo sư Leopoldo Torres Balbás. Trong 3 năm từ năm 1958 – 1961 ông học việc tại văn phòng của KTS Francisco Javier Sáenz de Oiza.

Sau khi tốt nghiệp năm 1961, Moneo đến Đan Mạch làm việc cho kiến trúc sư Jørn Utzon và tham gia vào giai đoạn đầu khi Jørn Utzon thiết kế công trình nổi tiếng Nhà hát Opera Sydney. Trước khi trở về Tây Ban Nha vào năm 1962, Moneo đã đi khắp các nước vùng Scandinavia, trong thời gian đó, ông đã gặp Alvar Aalto ở Helsinki, Phần Lan

Tình yêu Kiến trúc của Rafael Moneo được thể hiện qua những công trình ông thiết kế, những học thuyết ông nghiên cứu và xuất bản thành sách, những bài giảng trên giảng đường.

Năm 1962, Moneo quay về Tây Ban Nha và ông nhận được một học bổng nhỏ của Viện Hàn lâm Tây Ban Nha sang Rome, Ý học trong vòng hai năm. Tại đây ông đã có cơ hội gặp gỡ làm quen với nhiều nhân vật nổi tiếng đương thời như Bruno Zevi, Manfredo Tafuri, Paolo Portoghesi. Năm 1965, Moneo quay lại Tây Ban Nha, dạy học và hoàn thành học vị tiến sĩ tại trường Kiến trúc, Đại học Madrid. Năm1970, ông chuyển sang làm nghiên cứu về học thuyết kiến trúc tại trường Kiến trúc Barcelona. Năm 1976, Moneo sang Mỹ làm việc theo học bổng của Học viện Nghiên cứu Kiến trúc và Đô thị New York (Institute for Architecture and Urban Studies of New York City) và trường Kiến trúc của Hiệp hội Cooper (Cooper Union Irwin S. Chanin School of Architecture). Trong thời gian này, ông trở thành giáo sư thỉnh giảng của Đại học Harvard, Đại học Princeton và Đại học Lausanne (Thụy Sĩ). Năm 1985, Moneo được bổ nhiệm làm chủ nhiệm khoa Kiến trúc, Đại học Harvard cho đến đầu những năm 1990.

Tình yêu Kiến trúc của ông được thể hiện qua những công trình ông thiết kế, những học thuyết ông nghiên cứu và xuất bản thành sách, những bài giảng trên giảng đường.

Không giống như nhiều kiến ​​trúc sư đương đại, Moneo không “sao chép” từ các xu hướng liên quan đến chủ nghĩa Công năng và chủ nghĩa Biểu hiện châu Âu. Thay vào đó, Moneo bị ảnh hưởng bởi kiến trúc truyền thống của Bắc Âu và Hà Lan. Ông chắt lọc tất cả những hiểu biết uyên thâm về lĩnh vực kiến trúc và sự sáng tạo của mình để tạo ra những công trình có các dáng vẻ đa dạng khác nhau, phù hợp với bối cảnh thiết kế. Tòa nhà của ông thường sạch sẽ, thẳng thớm, các bức tường, dầm, cột đan xen thành dạng lưới hoặc song song.

Mỗi công trình của ông đều là duy nhất, duy nhất với Kiến trúc, duy nhất với chính bản thân ông.

Trong nhiều công trình mà Rafael Moneo đã thiết kế, chúng ta có thể điểm qua một số công trình nổi bật như: bảo tàng Nghệ thuật Quốc gia La Mã, trung tâm Hội nghị và Khán phòng Kursaal, nhà thờ Đức mẹ của các Thiên thần, dự án mở rộng của ga Atocha, tòa thị chính Murcia, …

Bảo tàng Nghệ thuật Quốc gia La Mã là đòn bẩy “định vị” tên tuổi Rafael Moneo trên “bản đồ” Kiến trúc thế giới. Bảo tàng này là một kiệt tác mới của Kiến trúc thế giới. Với những chi tiết trụ tường, vòm, cửa sổ, đèn, cửa chớp,… đơn giản, có phần “trần trụi” như phong cách Hiện đại.

Vật liệu được Moneo sử dụng là những viên gạch La Mã, sử dụng rất nhiều những khung vòm để tạo lên các không gian trưng bày. Và một điểm đặc biệt là Bảo tàng có cửa sổ ở trên mái, các không gian đều đủ ánh sáng. Bằng cách sử dụng vật liệu đặc trưng của La Mã, các hệ vòm cũng đặc trưng của Kiến trúc thành Rome, một Bảo tàng trưng bày Nghệ thuật La Mã, đặt tại trung tâm Tây Ban Nha nhưng lại không hề “lệch tone”.

Và rất nhiều công trình kiến trúc khác . . .

Giải thưởng

  • Huy chương vàng về nghệ thuật, 1992, chính phủ Hoàng gia Tây Ban Nha
  • Giải thưởng Danh dự của Hiệp hội kiến trúc sư Mỹ AIA và giải thưởng Hoàng tử Viana của chính phủ vùng Navara, Tây Ban Nha, 1993
  • Giải thưởng Danh dự cho thành viên ngoại quốc, Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Khoa học Mỹ (American Academy of Arts and Sciences), 1993
  • Tiến sĩ danh dự Đại học Công giáo Leuven (Katholieke Universiteit Leuven), Bỉ
  • Giải thưởng Arnold W. Brunner của Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Văn học Mỹ (American Academy of Arts and Letters)
  • Huy chương Vàng kiến trúc của Viện Hàn lâm kiến trúc Pháp. (L'Académie de l'architecture française) 1996
  • Giải thưởng Pritzker, 1996
  • Huy chương Thomas Jefferson về Kiến trúc (2012)

Một số công trình thiết kế

  • Phòng hòa nhạc Barcelona, 1990

  • Bản tàng nghệ thuật hiện đại và kiến trúc, Stockhom, Thụy Điển, 1994

  • Trung tâm văn hóa Don Benito ở Badajoz, 1995

  • Tòa thị chính Murcia, 1995

  • Phòng hòa nhạc và trung tâm văn hóa San Sebastián, 1995

  • Nhà thờ Đức mẹ của các Thiên thần, Los Angeles, Mỹ, 1996

Philip Cortelyou Johnson (8 tháng 7, 1906 – 25 tháng 1, 2005) là một kiến trúc sư người Mỹ. Ông là giám đốc đầu tiên của bộ phận kiến trúc thuộc Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại New York (Museum of Modern Arts - MoMA) vào năm 1946 và sau này là người đại diện của MoMA. Ông được tặng Huy chương Vàng của Học viện kiến trúc sư Mỹ năm 1978 và là người đầu tiên đoạn giải thưởng Pritzker vào năm 1979. Ông từng là sinh viên tại Đại học Harvard.

Vào năm 1932, ông cộng tác với Henry-Russell Hitchcock viết tác phẩm "Phong cách quốc tế: Kiến trúc từ năm 1922" (The International Style: Architecture Since 1922). Tác phẩm này đã ghi nhận các đặc điểm cho sự phát triển giai đoạn đầu của Kiến trúc Hiện đại trên thế giới. Johnson được biết đến với kiến thức sâu, rộng về trường phái hiện đại châu Âu và giới thiệu Ludwig Mies van der Rohe ở Mỹ.

Với tư cách là cố vấn của nhóm New york Five, một nhà môi giới quyền lực, một nhân vật nổi danh và một ủy viên quản trị của Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại (Museum of Modern Art - MoMA), Johnson đã có một ví trí lí tưởng để quảng bá quan điểm của mình về kiến trúc như một ngành nghệ thuật cân bằng với các loại nghệ thuật khác. Tuy rằng Johnson vẽ không được đẹp nhưng bù lại ông có một giác quan về đồ họa và thiết kế hoàn hảo. Như một nhân vật nổi danh của kiến trúc Mỹ trong nhiều thập kỷ, Johnson vừa là một biểu tượng lớn, nhà tiên tri, một nhà châm biếm, ông thực sự là một nguồn dữ liệu tin tưởng của trí tuệ và các nhận xét phê bình.

Một trong số những điểm gây tranh cãi trong sự nghiệp của Johnson là sự tán dương chủ nghĩa Phát xít trong vòng tám năm, bắt đầu từ năm 1932. Sau khi tách mình ra khỏi thành công của ông với MoMa, Johnson đã nỗ lực gia nhập lực lượng của thống đốc bang Louisiana là Huey Long, một hành động mà báo chí đương thời cho là kì quái. Sau khi Huey Long bị ám sát năm 1935, Johnson viết một loạt các bài thẳng thừng Bài Do thái cho linh mục Charles Coughlin ở đài phát thanh Detroit, đồng thời chạy đua vào cơ quan công quyền ở Ohio và cố gắng lập một đảng Phát xít ở Mỹ. Johnson cũng đi du lịch tại Nürnberg trong cuộc mít tinh của Adolf Hitler năm 1938. Năm 1938, Johnson đến Ba Lan sau khi bị nước Đức xâm lược. Khi đó ông đã viết:

Những bộ quân phục màu xanh của người Đức đã làm quan cảnh thật vui tưoi và hạnh phúc [...] Ở đó chẳng còn mấy người Do Thái. Chúng ta thấy Warszawa bốc cháy và Modlin bị dội bom. Thật là một quang cảnh hào hứng

Sau một cuộc điều tra của FBI và trong quãng thời gian chờ đợi trước khi nước Mỹ tham chiến ở Thế Chiến thứ hai, Johnson từ bỏ sự ủng hộ của mình với chủ nghĩa Phát xít khoảng giữa năm 1940 và quay lại Đại học Harvard. Những năm sau đó, ông từ bỏ chủ nghĩa Phát xít và thiết kế một hội đường Do Thái giáo miễn phí như một lời xin lỗi. Trong triết lý của mình, Johnson chỉ tập trung vào thẩm mỹ mà bỏ đi tất cả các khía cạnh khác, trong một cuộc phỏng vấn vào năm 1973, ông đã nói:

Điểm duy nhất tôi thực sự lấy làm tiếc về những chế độ độc tài không phải là về nền chuyên chính, bởi vì tôi hiểu rằng, vào thời của Julius, của Justinian và của Caesar phải có những nhà độc tài. Ý của tôi là tôi thực sự không quan tâm gì đến khía cạnh chính trị. Tôi không thấy bất cứ một ý nghĩa nào về nó. Về phần Hitler, nếu ông ta có thể là một kiến trúc sư tốt

Công trình nổi tiếng nhất của Johnson là nhà kính New Canaan tại Connecticut, một công trình có không gian mở và trong suốt, được ông thiết kế làm nhà riêng và cũng là luận văn tốt nghiệp thạc sĩ của ông tại Đại học Harvard năm 1949. Công trình này có rất nhiều điểm tương tự nhà kính Farnsworth của Mies.

Công trình trụ sở AT&T của Johnson, hoàn thành năm 1984, lại mang một hình ảnh hoàn toàn khác. Với lớp vỏ màu hồng bằng đá cẩm thạch và một dáng vẻ cổ điển, công trình là một sự tương phản với thẩm mỹ kiến trúc Hiện đại của những nhà chọc trời trong khu Manhattan. Yếu tố đập vào mắt mọi người ở công trình đó là chi tiết trán tường có một cung tròn bị vỡ ra thành hình tròn kiểu Chippendade, một kiểu tủ cổ Ý. Cách xử lý này chính là một trong những thủ pháp của Kiến trúc Hậu Hiện đại. Theo một số nhà nghiên cứu, đây được xem như tuyên ngôn đầu tiên của Kiến trúc Hậu Hiện đại, khi mà thẩm mỹ của kiến trúc Hiện đại đã đi vào ngõ cụt.

Các công trình nổi tiếng của ông bao gồm:

  • Nhà John de Menil, Houston, 1950

  • Nhà hàng Bốn mùa tại tòa nhà Seagram của Mies van der Rohe, thành phố New York, 1959

  • Nhà hát bang New York (trụ sở của dàn Opera thành phố New York và đoàn Ballet thành phố New York) tại Trung tâm Lincoln cộng tác với Richard Foster, 1964

  • Thư viện Elmer Holmes Bobst tại Đại học New York, 1967 - 1972

  • Tháp IDS ở Minneapolis, Minnesota, 1972

  • Bảo tàng Nghệ thuật Nam Texas ở Corpus Christi, Texas, 1972

  • Thư viện công cộng Boston, 1973

  • Nhà thờ chính tòa Pha Lê tại Garden Grove, California, 1980

  • Tháp Williams, Houston, 1983

  • Bảo tàng nghệ thuật Neuberger tại Đại học Tiểu bang New York, Purchase College,

  • Quảng trường Tạ ơn, Dallas, Texas,

  • Khu học xá chính của Đại học Saint Thomas, Houston, Texas

  • Ngân hàng Cộng hòa, Houston, Texas

  • Nhà hát Cleveland, Cleveland, Ohio

  • Bảo tàng Nghệ thuật tại Học viện Nghệ thuật Munson-Williams-Proctor, Utica, New York.

  • 190 South LaSalle, Chicago

  • 191 Tháp Peachtree, Atlanta, Georgia

  • Trung tâm One Atlantic, (còn được gọi là tháp IBM), Atlanta, Georgia

  • Công trình Cánh cổng châu Âu, Madrid, Tây Ban Nha

  • Fort Worth Water Gardens

  • Quảng trường PPG, Pittsburgh, Pennsylvania, cộng tác với John Burgee, 1984

  • Bảo tàng Amon Carter, Fort Worth, Texas

Ông sinh ra ở Florence nước Ý vào năm 1377. Là một trong những người được coi là bậc thầy của kiến trúc hiện đại, những sáng tạo trong tác phẩm của ông có tác động to lớn để nhiều nghệ sĩ thời kỳ phục hưng noi theo. Tài năng thực sự của Brunelleschi nằm ở chính những thiết kế của ông. Khi nhà thờ Florence Cathedral muốn làm mái vòm mới, Brunelleschi tự tin rằng mình có thể thực hiện một kiệt tác chưa từng có: Mái vòm tự chịu lực hoàn toàn.

Dường như ông đã gặp phải hai khó khăn lớn khi xây dựng. Thứ nhất là phương thức trộn bê tông không phù hợp khi xây dựng Falling of Rome. Thứ hai là lượng gỗ từ những khu rừng trong vùng không đủ để đáp ứng số lượng giàn giáo cần thiết.

Thế nhưng sự cố gắng của Brune là ngoài sức tưởng tượng. Thậm chí ông còn chẳng có đủ hai loại nguyên vật liệu chính, vậy mà ông vẫn có thể làm trọn vẹn mọi thứ.

 

 

Dù sao, chỉ với 4 triệu viên gạch mà 16 năm sau, Florence Cathedral đã có một mái vòm tuyệt vời, là một kiệt tác của mọi thời đại. Từ khi được Đức Giáo hoàng thừa nhận vào Lễ phục sinh năm 1436, tác phẩm vẫn là một mốc son đáng ghi nhớ của nền kiến trúc đương đại cho đến tận ngày nay.

Joseph Eichler sinh năm 1900, nói một cách chính xác thì ông không phải một kiến trúc sư nhưng ông có tầm ảnh hưởng rất lớn đến công cuộc phát triển khu vực ngoại ô giữ thế kỷ 20. Trong suốt tuổi thanh xuân của mình, ông đã cùng công ty của mình xây dựng hơn 11000 ngôi nhà thiết kế dựa trên những nguyên tắc của kiến trúc hiện đại, và hầu hết những ngôi nhà này nằm ở California. Những tác phẩm của ông đã đưa kiến trúc hiện đại dẫn đầu trong giới thiết kế. Ngôi nhà ông thiết kế có một số chi tiết không thực sự phù hợp với tiêu chuẩn hiện này, ví dụ như cửa sổ thiết kế từ sàn nhà lên trần nhà hay cột trụ và xà dầm không được thiết kế theo cách thông thường. Những thiết kế khác của ông thì vẫn được thiết kế như thông thường như thiết kế sàn nhà hay phòng tắm thì không thể thiếu giống như những thiết kế ngày này.

 

Ông có ý tưởng mang tới những ngôi nhà đẹp, phong cách và sang trọng đến cho mọi người (Eichler ám chỉ mọi người ở đây bao gồm cả những người bị phân biệt chủng tộc cũng như tôn giáo). Tuy nhiên ngày nay,  để mua một căn nhà của Eichler thì hơi khó đối với một khách hàng được coi là tiềm năng trước đây. Một số căn nhà còn có giá từ 2 triệu đô la hoặc hơn thế. Những căn hộ Eicher đã xây dựng hiện giờ đang là những thiết kế thời thượng. Thật đáng ghen tị !

Moshe Safdie đã được vinh danh với huy chương vàng từ Viện hàn lâm Kiến trúc Hoàng Gia Canada cho những cống hiến của ông với ngành xây dựng của quốc gia này.

Safdie cũng là người đã thiết kế Thư viện quốc gia của Canada.

Le Corbusier (6/10/1887 – 27/8/1965) là một kiến trúc sư nổi tiếng thế giới người Thụy Sĩ. Ông là một trong những người đặt nền móng cho sự phát triển của trào lưu Kiến trúc hiện đại của thế kỉ 20. Để kỷ niệm, hình ông được in lên tờ 10 franc của Thụy Sĩ và tên ông được đặt tên đường ở nhiều quốc gia.

Le Corbusier được mọi người biết đến như cha đẻ của mô hình Trung cư. Ông đã thiết kế và đưa ra những lý thuyết cơ bản về những dự án nhà ở công cộng. Yếu tố nổi bật của dự án này là thực sự phù hợp với mật độ dân cư rất lớn hiện nay.  Trong số những dự án của ông, có thiết kế gác xép thoáng đãng giữa những bức tường ngăn hay những hoạ tiết trang trí và bậu cửa sổ lớn có thể làm tăng ánh sáng cho không gian. Bê tông cốt thép cũng được đánh giá là điểm nổi bật trong những thiết kế của ông.

Le Corbusier tên khai sinh là Charles-Edouard Jeaneret, ông sinh năm 1887. Không chỉ dừng lại ở góc độ tình cảm khi người ta quan niệm “Mái ấm là nơi con tim ngự trị”, hơn thế nữa ông còn dựa trên quan điểm chức năng của nó, ngôi nhà –  nơi thể hiện cuộc sống có trật tự và phong cách sống gắn liền với công nghệ và kĩ thuật. Triết lý này đã có ảnh hưởng sâu rộng đến phong cách của nhiều thế hệ kiến trúc sư sau này. Le Corbusier cũng phát triển mô hình nhà xây dựng hàng loạt, góp phần đẩy nhanh tiến độ xây dựng nhà cửa sau chiến tranh TG thứ I và cải thiện mức sống cho những người dân có thu nhập thấp.

Thời trẻ, Le Corbusier theo học tại trường thủ công mỹ nghệ tại địa phương, dưới sự hướng dẫn của Charles L’Éplattenier người đã từng du học tại Budapest và Paris là các trung tâm nghệ thuật thời bấy giờ. Thời điểm đó, Le Corbusier đã bộc lộ rõ hứng thú nghiên cứu về cấu trúc hình học của các đối tượng cũng như việc ứng dụng kĩ thuật vào nghệ thuật.

 

Công trình đầu tiên của ông là biệt thự Fallet, biệt thự Schowb, biệt thự Jeanneret ở vùng núi La Chaux de Fonds đã thể hiện những giải pháp sáng tạo ở việc xử lí các chi tiết kỹ thuật. Những công trình đã sử dụng tài tình những ngôn ngữ của kiến trúc bản địa vùng núi Alps. Các công trình này dần dần đã thể hiện bước tiến trong tư duy về không gian kiến trúc với việc đơn giản hóa hình khối của trong kiến trúc.

 

 

Ham muốn khám phá đã thúc đẩy Le Corbusier rời quê nhà đi du lịch vòng quanh châu Âu. Năm 1907, Le Corbusier đến Paris và làm việc cho kiến trúc sư Auguste Perret, bậc thầy về sử dụng bê tông của kiến trúc Pháp giai đoạn đó. Từ tháng 10 năm 1910 đến tháng 3 năm 1911, Le Corbusier làm việc cho văn phòng của kiến trúc sư Peter Behrens, nhà tiên phong của kiến trúc hiện đại ở Đức ở Berlin. Tại đây ông đã gặp kiến trúc sư trẻ Ludwig Mies van der Rohe. Những sự kiện này đã có ảnh hưởng rõ rệt trong sự nghiệp của ông sau này. Vào cuối năm 1911, Le Corbusier đi du lịch các nước vùng Balkans, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ. Ông đã ký họa rất nhiều những gì ông nhìn thấy trong chuyến du lịch của mình, bao gồm những công trình nổi tiếng như đền Parthenon ở khu Acropolis (Athena, Hy Lạp). Những công trình mà sau này ông tán dương trong tác phẩm “Hướng về một nền kiến trúc” (Vers une architecture) viết năm 1923.

 

Thường được gọi với cái tên Mies, kiến trúc sư người Mỹ gốc Đức này là một trong những người tiên phong cho phong cách kiến trúc hiện đại, cùng với Le Corbusier và Walter Gropius.

Mies là người đi đầu trong phong cách tối giản với phương thức thiết kế "ít là nhiều" bằng cách sử dụng tấm kính kết cấu thép để phân chia không gian nội thất. Những khái niệm kiến trúc tối giản hóa của ông đã được những thế hệ sau phát triển, trong đó có Philip Johnson.

Dự án đáng chú ý nhất của ông bao gồm Pavilion Barcelona ​​ở Barcelona, ​​Tây Ban Nha, Thư viện quốc gia mới ở Berlin, Đức, Tòa nhà Seagram ở New York và Crown Hall ở Chicago, Illinois.

 

Ông được người ta biết đến như cha đẻ của những tòa Skyscraper (nhà chọc trời). Ông là thầy dạy của rất nhiều KTS nổi tiếng, một trong số đó cũng nằm trong danh sách này mà chúng tôi sẽ đề cập đến ở phần sau. Những gì mà Sullivan làm được không chỉ dừng lại ở việc đào tạo nên những người trò giỏi.

 

Sinh năm 1856, Sullivan có kinh nghiệm làm việc ở rất nhiều công ty kiến trúc, vì vậy ông có nhiều triển vọng nghề nghiệp với những tòa nhà được thiết kế ngày càng cao hơn. Là tín đồ trung thành của định lý “hình dáng theo công năng”, Sullivan thấy không khó để hình dung, thiết kế và xây dựng những toà nhà cao hơn những kiến trúc đương thời. Một khi phương diện chức năng được chú ý thì Sullivan cũng không e ngại về việc tăng cường những hoạ tiết trang trí đắt giá vào nội thất bên trong và bên ngoài tác phẩm để có những dự án độc nhất vô nhị.

Trong khi nhiều kiến trúc sư khác còn đang phân vân trong việc chuyển sang sử dụng các thiết kế hiện đại như cấu trúc thép hay sử dụng hệ thống đèn điện thì Sullivan và đồng nghiệp của mình đã đi tiên phong, trong khi đó họ vẫn tôn trọng những đặc tính vốn có của những vật liệu thường được sử dụng thời đó. Trong tương lai, sẽ có những tài năng tiếp tục con đường của ông và họ sẽ gặt hái được những thành tựu to lớn hơn…

Ở tuổi gần 70, kiến trúc sư Robert Stern vẫn còn trông rất phong độ. Không ngạc nhiên khi nhìn những việc ông đang làm: quản lý thành công một công ty 300 người ở Manhattan, chủ nhiệm khoa trường đại học kiến trúc Yale, viết sách, thuyết trình, tham quan nơi làm việc và phác thảo những ý tưởng mới... Về lý thuyết, ông là kiến trúc sư trẻ đã xuất sắc nhận bằng tại hai trường đại học Columbia và Yale, sau đó là cố vấn cho Vincent Scully nổi tiếng. Tốt nghiệp năm 1965, công việc đầu tiên của Stern là phó phòng thiết kế tại xưởng vẽ của một kiến trúc sư đầy triển vọng Richard Meier.

Từ khi bắt đầu kinh doanh cách đây 38 năm, Stern tham gia vào hầu hết những công việc sáng tạo đa dạng trong kiến trúc đương đại. Những dự án của công ty ông gồm Federal Courthouse ở Virginia, tòa nhà Harvard và trường đại học Virginia, cùng vô số những công trình công sang trọng như hội trường 10 Rittenhouse, Philadelphia nổi tiếng.

Dù thiết kế penthouse cho các CEO quyền lực hay tòa nhà kinh viện, phương pháp của Stern là sự đơn giản từ những phác họa đầu tiên. Stern nói: “Tôi thậm chí không biết dùng chương trình word, hay cái mà bạn gọi là laptop”. Tất nhiên ông hiểu được sức mạnh của máy tính trong thế giới kiến trúc ngày nay và nhóm cộng sự của ông đã sử dụng những kỹ thuật tiên tiến nhất. Vị kiến trúc sư trứ danh có lời khuyên dành cho những kiến trúc sư sau này là “không nên bỏ qua những gì họ có trong tay và nhìn thấy trong mắt họ”.

Stern nói: “Câu thần chú của tôi trong việc giáo dục là bạn phải tiến tới và tìm kiếm thử thách trong những tình huống đến với chúng ta trong vai trò là một kiến trúc sư, chúng ta không cần diễn lại những gì đã học. Quá khứ cho chúng ta những bài học”.

Ông sinh năm 1475 và có lẽ là người được biết đến nhiều nhất. Không chỉ là một họa sĩ mà còn là một nhà điêu khắc đại tài. Bên cạnh trang trí cho nhà nguyện Sistine và điêu khắc tượng David, Michelangelo còn tạo nên những tác phẩm điêu khắc tuyệt vời cho nhà thờ St. Peter’s Basilica ở Vantican, cùng rất nhiều dự án khác như Thư viện Laurentian và Nhà thờ Medici.

Những thiết kế của ông mở ra thời đại mới cho kiến trúc Mannenism (trường phái Biểu Hiện), là tiền đề trong hội họa và kiến trúc của thời kỳ Baroque sau này. Rất nhiều kiến trúc sư thời kỳ Phục hưng, trong đó có một bộ phận không nhỏ là học trò và đồng nghiệp của Michelangelo đã tìm cho mình nguồn cảm hứng từ những tác phẩm của ông. Điều này chưa bao giờ bị hạn chế bởi những học thuyết thiết kế cổ điển khắt khe.

Công việc của Renzo Piano là sự gặp gỡ hiếm hoi giữa ngành hội họa, kiến trúc và kỹ thuật cùng nét hoa mỹ trong triết học Ý cổ điển truyền thống. Năm 1998, ông đoạt giải Pritzker, một giải thưởng danh giá nhất ngành kiến trúc. Ông cũng được xem như một nghệ sĩ thực thụ.

Piano sinh vào năm 1937, trong một gia đình chủ thầu ở Genoa, Ý. Ông nội, cha, bốn người chú và những người anh em khác đều là thầu khoán, và mọi người đã chống đối kịch liệt khi ông quyết định theo nghề kiến trúc.

Tốt nghiệp trường Bách Khoa Milan, ông cưới vợ và bắt đầu kinh doanh trong công ty xây dựng của cha mình. Thần tượng Brunelleschi, Jean Prouve ở Pháp, và Z.S. Makowsky ở thế kỷ 15, Piano quyết tâm theo đuổi con đường mình đã chọn.

Công trình đầu tiên của ông hình thành vào năm 1969, đó là dự án thiết kế Italian Industry Pavilion tại Expo ‘70 ở Osaka. Trung tâm thiết kế Expo thu hút rất nhiều người, trong đó có một kiến trúc sư trẻ khác người Anh tên là Richard Rogers. Hai người cùng có nhiều ý tưởng tuyệt vời, họ đã hợp tác để cùng nhau chiến thắng trong một cuộc thi quốc tế tại trung tâm Georges Pompidou ở Paris.

Những công trình của ông gồm hơn 40 dự án khác nhau nổi tiếng thế giới. Một trong những công trình đó là The Menil Collection - viện bảo tàng ở Houston, Texas. Đây là một kiệt tác kiến trúc về sự đơn giản, linh hoạt, không gian mở và tràn ngập ánh sáng tự nhiên, thể hiện qua hình ảnh “mái nhà chiếc lá” của Piano.

More Articles...

Đăng ký e-mail của bạn để nhận thông tin hữu ích từ Trung tâm Thiết kế Nội thất và Quảng cáo - Công ty Cổ phần Thương mại Hàng không Việt Nam - (04) 6662 6886