JA Teline V - шаблон joomla Форекс

Rafael Moneo là một kiến trúc sư Tây Ban Nha có ảnh hưởng rất lớn đến nền Kiến trúc Thế Giới vào cuối thế kỉ trước, ông là bậc thầy với hiểu biết uyên thâm về học thuật và thiết kế, ông được đánh giá cao bởi những nhà phê bình kiến trúc, các Kiến trúc sư… Tuy cũng giành giải Pritzker (năm 1996) nhưng tên tuổi của ông không được nhiều người biết đến như IM Pei, Frank Gehry hay Robert Venturi, một phần vì ông không có quá nhiều công trình trong sự nghiệp thiết kế của mình, cũng có thể là do ông hoạt động trên nhiều khía cạnh của kiến trúc, và có lẽ, do phong cách kiến trúc Chiết trung mà ông theo đuổi quá đa dạng, khó nắm bắt.

Rafael Moneo tên đầy đủ là José Rafael Moneo Vallés sinh năm 1937 tại Tây Ban Nha, ông được biết đến với nhiều vai trò như kiến trúc sư, nhà lý thuyết kiến trúc và giáo sư Đại học. Mặc dù là một trong những nhân vật quan trọng nhất của kiến ​​trúc Tây Ban Nha, tuy nhiên niềm đam mê ngày niên thiếu của Moneo lại là về triết học và hội họa. Chính bố ông – một kỹ sư đã truyền niềm đam mê và hướng cho ông học Kiến trúc tại Trường Đại học Kỹ thuật Madrid. Tại đây, ông chịu ảnh hưởng mạnh từ giáo sư môn Lịch sử Kiến trúc của ông – giáo sư Leopoldo Torres Balbás. Trong 3 năm từ năm 1958 – 1961 ông học việc tại văn phòng của KTS Francisco Javier Sáenz de Oiza.

Sau khi tốt nghiệp năm 1961, Moneo đến Đan Mạch làm việc cho kiến trúc sư Jørn Utzon và tham gia vào giai đoạn đầu khi Jørn Utzon thiết kế công trình nổi tiếng Nhà hát Opera Sydney. Trước khi trở về Tây Ban Nha vào năm 1962, Moneo đã đi khắp các nước vùng Scandinavia, trong thời gian đó, ông đã gặp Alvar Aalto ở Helsinki, Phần Lan

Tình yêu Kiến trúc của Rafael Moneo được thể hiện qua những công trình ông thiết kế, những học thuyết ông nghiên cứu và xuất bản thành sách, những bài giảng trên giảng đường.

Năm 1962, Moneo quay về Tây Ban Nha và ông nhận được một học bổng nhỏ của Viện Hàn lâm Tây Ban Nha sang Rome, Ý học trong vòng hai năm. Tại đây ông đã có cơ hội gặp gỡ làm quen với nhiều nhân vật nổi tiếng đương thời như Bruno Zevi, Manfredo Tafuri, Paolo Portoghesi. Năm 1965, Moneo quay lại Tây Ban Nha, dạy học và hoàn thành học vị tiến sĩ tại trường Kiến trúc, Đại học Madrid. Năm1970, ông chuyển sang làm nghiên cứu về học thuyết kiến trúc tại trường Kiến trúc Barcelona. Năm 1976, Moneo sang Mỹ làm việc theo học bổng của Học viện Nghiên cứu Kiến trúc và Đô thị New York (Institute for Architecture and Urban Studies of New York City) và trường Kiến trúc của Hiệp hội Cooper (Cooper Union Irwin S. Chanin School of Architecture). Trong thời gian này, ông trở thành giáo sư thỉnh giảng của Đại học Harvard, Đại học Princeton và Đại học Lausanne (Thụy Sĩ). Năm 1985, Moneo được bổ nhiệm làm chủ nhiệm khoa Kiến trúc, Đại học Harvard cho đến đầu những năm 1990.

Tình yêu Kiến trúc của ông được thể hiện qua những công trình ông thiết kế, những học thuyết ông nghiên cứu và xuất bản thành sách, những bài giảng trên giảng đường.

Không giống như nhiều kiến ​​trúc sư đương đại, Moneo không “sao chép” từ các xu hướng liên quan đến chủ nghĩa Công năng và chủ nghĩa Biểu hiện châu Âu. Thay vào đó, Moneo bị ảnh hưởng bởi kiến trúc truyền thống của Bắc Âu và Hà Lan. Ông chắt lọc tất cả những hiểu biết uyên thâm về lĩnh vực kiến trúc và sự sáng tạo của mình để tạo ra những công trình có các dáng vẻ đa dạng khác nhau, phù hợp với bối cảnh thiết kế. Tòa nhà của ông thường sạch sẽ, thẳng thớm, các bức tường, dầm, cột đan xen thành dạng lưới hoặc song song.

Mỗi công trình của ông đều là duy nhất, duy nhất với Kiến trúc, duy nhất với chính bản thân ông.

Trong nhiều công trình mà Rafael Moneo đã thiết kế, chúng ta có thể điểm qua một số công trình nổi bật như: bảo tàng Nghệ thuật Quốc gia La Mã, trung tâm Hội nghị và Khán phòng Kursaal, nhà thờ Đức mẹ của các Thiên thần, dự án mở rộng của ga Atocha, tòa thị chính Murcia, …

Bảo tàng Nghệ thuật Quốc gia La Mã là đòn bẩy “định vị” tên tuổi Rafael Moneo trên “bản đồ” Kiến trúc thế giới. Bảo tàng này là một kiệt tác mới của Kiến trúc thế giới. Với những chi tiết trụ tường, vòm, cửa sổ, đèn, cửa chớp,… đơn giản, có phần “trần trụi” như phong cách Hiện đại.

Vật liệu được Moneo sử dụng là những viên gạch La Mã, sử dụng rất nhiều những khung vòm để tạo lên các không gian trưng bày. Và một điểm đặc biệt là Bảo tàng có cửa sổ ở trên mái, các không gian đều đủ ánh sáng. Bằng cách sử dụng vật liệu đặc trưng của La Mã, các hệ vòm cũng đặc trưng của Kiến trúc thành Rome, một Bảo tàng trưng bày Nghệ thuật La Mã, đặt tại trung tâm Tây Ban Nha nhưng lại không hề “lệch tone”.

Và rất nhiều công trình kiến trúc khác . . .

Giải thưởng

  • Huy chương vàng về nghệ thuật, 1992, chính phủ Hoàng gia Tây Ban Nha
  • Giải thưởng Danh dự của Hiệp hội kiến trúc sư Mỹ AIA và giải thưởng Hoàng tử Viana của chính phủ vùng Navara, Tây Ban Nha, 1993
  • Giải thưởng Danh dự cho thành viên ngoại quốc, Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Khoa học Mỹ (American Academy of Arts and Sciences), 1993
  • Tiến sĩ danh dự Đại học Công giáo Leuven (Katholieke Universiteit Leuven), Bỉ
  • Giải thưởng Arnold W. Brunner của Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Văn học Mỹ (American Academy of Arts and Letters)
  • Huy chương Vàng kiến trúc của Viện Hàn lâm kiến trúc Pháp. (L'Académie de l'architecture française) 1996
  • Giải thưởng Pritzker, 1996
  • Huy chương Thomas Jefferson về Kiến trúc (2012)

Một số công trình thiết kế

  • Phòng hòa nhạc Barcelona, 1990

  • Bản tàng nghệ thuật hiện đại và kiến trúc, Stockhom, Thụy Điển, 1994

  • Trung tâm văn hóa Don Benito ở Badajoz, 1995

  • Tòa thị chính Murcia, 1995

  • Phòng hòa nhạc và trung tâm văn hóa San Sebastián, 1995

  • Nhà thờ Đức mẹ của các Thiên thần, Los Angeles, Mỹ, 1996

Philip Cortelyou Johnson (8 tháng 7, 1906 – 25 tháng 1, 2005) là một kiến trúc sư người Mỹ. Ông là giám đốc đầu tiên của bộ phận kiến trúc thuộc Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại New York (Museum of Modern Arts - MoMA) vào năm 1946 và sau này là người đại diện của MoMA. Ông được tặng Huy chương Vàng của Học viện kiến trúc sư Mỹ năm 1978 và là người đầu tiên đoạn giải thưởng Pritzker vào năm 1979. Ông từng là sinh viên tại Đại học Harvard.

Vào năm 1932, ông cộng tác với Henry-Russell Hitchcock viết tác phẩm "Phong cách quốc tế: Kiến trúc từ năm 1922" (The International Style: Architecture Since 1922). Tác phẩm này đã ghi nhận các đặc điểm cho sự phát triển giai đoạn đầu của Kiến trúc Hiện đại trên thế giới. Johnson được biết đến với kiến thức sâu, rộng về trường phái hiện đại châu Âu và giới thiệu Ludwig Mies van der Rohe ở Mỹ.

Với tư cách là cố vấn của nhóm New york Five, một nhà môi giới quyền lực, một nhân vật nổi danh và một ủy viên quản trị của Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại (Museum of Modern Art - MoMA), Johnson đã có một ví trí lí tưởng để quảng bá quan điểm của mình về kiến trúc như một ngành nghệ thuật cân bằng với các loại nghệ thuật khác. Tuy rằng Johnson vẽ không được đẹp nhưng bù lại ông có một giác quan về đồ họa và thiết kế hoàn hảo. Như một nhân vật nổi danh của kiến trúc Mỹ trong nhiều thập kỷ, Johnson vừa là một biểu tượng lớn, nhà tiên tri, một nhà châm biếm, ông thực sự là một nguồn dữ liệu tin tưởng của trí tuệ và các nhận xét phê bình.

Một trong số những điểm gây tranh cãi trong sự nghiệp của Johnson là sự tán dương chủ nghĩa Phát xít trong vòng tám năm, bắt đầu từ năm 1932. Sau khi tách mình ra khỏi thành công của ông với MoMa, Johnson đã nỗ lực gia nhập lực lượng của thống đốc bang Louisiana là Huey Long, một hành động mà báo chí đương thời cho là kì quái. Sau khi Huey Long bị ám sát năm 1935, Johnson viết một loạt các bài thẳng thừng Bài Do thái cho linh mục Charles Coughlin ở đài phát thanh Detroit, đồng thời chạy đua vào cơ quan công quyền ở Ohio và cố gắng lập một đảng Phát xít ở Mỹ. Johnson cũng đi du lịch tại Nürnberg trong cuộc mít tinh của Adolf Hitler năm 1938. Năm 1938, Johnson đến Ba Lan sau khi bị nước Đức xâm lược. Khi đó ông đã viết:

Những bộ quân phục màu xanh của người Đức đã làm quan cảnh thật vui tưoi và hạnh phúc [...] Ở đó chẳng còn mấy người Do Thái. Chúng ta thấy Warszawa bốc cháy và Modlin bị dội bom. Thật là một quang cảnh hào hứng

Sau một cuộc điều tra của FBI và trong quãng thời gian chờ đợi trước khi nước Mỹ tham chiến ở Thế Chiến thứ hai, Johnson từ bỏ sự ủng hộ của mình với chủ nghĩa Phát xít khoảng giữa năm 1940 và quay lại Đại học Harvard. Những năm sau đó, ông từ bỏ chủ nghĩa Phát xít và thiết kế một hội đường Do Thái giáo miễn phí như một lời xin lỗi. Trong triết lý của mình, Johnson chỉ tập trung vào thẩm mỹ mà bỏ đi tất cả các khía cạnh khác, trong một cuộc phỏng vấn vào năm 1973, ông đã nói:

Điểm duy nhất tôi thực sự lấy làm tiếc về những chế độ độc tài không phải là về nền chuyên chính, bởi vì tôi hiểu rằng, vào thời của Julius, của Justinian và của Caesar phải có những nhà độc tài. Ý của tôi là tôi thực sự không quan tâm gì đến khía cạnh chính trị. Tôi không thấy bất cứ một ý nghĩa nào về nó. Về phần Hitler, nếu ông ta có thể là một kiến trúc sư tốt

Công trình nổi tiếng nhất của Johnson là nhà kính New Canaan tại Connecticut, một công trình có không gian mở và trong suốt, được ông thiết kế làm nhà riêng và cũng là luận văn tốt nghiệp thạc sĩ của ông tại Đại học Harvard năm 1949. Công trình này có rất nhiều điểm tương tự nhà kính Farnsworth của Mies.

Công trình trụ sở AT&T của Johnson, hoàn thành năm 1984, lại mang một hình ảnh hoàn toàn khác. Với lớp vỏ màu hồng bằng đá cẩm thạch và một dáng vẻ cổ điển, công trình là một sự tương phản với thẩm mỹ kiến trúc Hiện đại của những nhà chọc trời trong khu Manhattan. Yếu tố đập vào mắt mọi người ở công trình đó là chi tiết trán tường có một cung tròn bị vỡ ra thành hình tròn kiểu Chippendade, một kiểu tủ cổ Ý. Cách xử lý này chính là một trong những thủ pháp của Kiến trúc Hậu Hiện đại. Theo một số nhà nghiên cứu, đây được xem như tuyên ngôn đầu tiên của Kiến trúc Hậu Hiện đại, khi mà thẩm mỹ của kiến trúc Hiện đại đã đi vào ngõ cụt.

Các công trình nổi tiếng của ông bao gồm:

  • Nhà John de Menil, Houston, 1950

  • Nhà hàng Bốn mùa tại tòa nhà Seagram của Mies van der Rohe, thành phố New York, 1959

  • Nhà hát bang New York (trụ sở của dàn Opera thành phố New York và đoàn Ballet thành phố New York) tại Trung tâm Lincoln cộng tác với Richard Foster, 1964

  • Thư viện Elmer Holmes Bobst tại Đại học New York, 1967 - 1972

  • Tháp IDS ở Minneapolis, Minnesota, 1972

  • Bảo tàng Nghệ thuật Nam Texas ở Corpus Christi, Texas, 1972

  • Thư viện công cộng Boston, 1973

  • Nhà thờ chính tòa Pha Lê tại Garden Grove, California, 1980

  • Tháp Williams, Houston, 1983

  • Bảo tàng nghệ thuật Neuberger tại Đại học Tiểu bang New York, Purchase College,

  • Quảng trường Tạ ơn, Dallas, Texas,

  • Khu học xá chính của Đại học Saint Thomas, Houston, Texas

  • Ngân hàng Cộng hòa, Houston, Texas

  • Nhà hát Cleveland, Cleveland, Ohio

  • Bảo tàng Nghệ thuật tại Học viện Nghệ thuật Munson-Williams-Proctor, Utica, New York.

  • 190 South LaSalle, Chicago

  • 191 Tháp Peachtree, Atlanta, Georgia

  • Trung tâm One Atlantic, (còn được gọi là tháp IBM), Atlanta, Georgia

  • Công trình Cánh cổng châu Âu, Madrid, Tây Ban Nha

  • Fort Worth Water Gardens

  • Quảng trường PPG, Pittsburgh, Pennsylvania, cộng tác với John Burgee, 1984

  • Bảo tàng Amon Carter, Fort Worth, Texas

Joseph Eichler sinh năm 1900, nói một cách chính xác thì ông không phải một kiến trúc sư nhưng ông có tầm ảnh hưởng rất lớn đến công cuộc phát triển khu vực ngoại ô giữ thế kỷ 20. Trong suốt tuổi thanh xuân của mình, ông đã cùng công ty của mình xây dựng hơn 11000 ngôi nhà thiết kế dựa trên những nguyên tắc của kiến trúc hiện đại, và hầu hết những ngôi nhà này nằm ở California. Những tác phẩm của ông đã đưa kiến trúc hiện đại dẫn đầu trong giới thiết kế. Ngôi nhà ông thiết kế có một số chi tiết không thực sự phù hợp với tiêu chuẩn hiện này, ví dụ như cửa sổ thiết kế từ sàn nhà lên trần nhà hay cột trụ và xà dầm không được thiết kế theo cách thông thường. Những thiết kế khác của ông thì vẫn được thiết kế như thông thường như thiết kế sàn nhà hay phòng tắm thì không thể thiếu giống như những thiết kế ngày này.

 

Ông có ý tưởng mang tới những ngôi nhà đẹp, phong cách và sang trọng đến cho mọi người (Eichler ám chỉ mọi người ở đây bao gồm cả những người bị phân biệt chủng tộc cũng như tôn giáo). Tuy nhiên ngày nay,  để mua một căn nhà của Eichler thì hơi khó đối với một khách hàng được coi là tiềm năng trước đây. Một số căn nhà còn có giá từ 2 triệu đô la hoặc hơn thế. Những căn hộ Eicher đã xây dựng hiện giờ đang là những thiết kế thời thượng. Thật đáng ghen tị !

Le Corbusier (6/10/1887 – 27/8/1965) là một kiến trúc sư nổi tiếng thế giới người Thụy Sĩ. Ông là một trong những người đặt nền móng cho sự phát triển của trào lưu Kiến trúc hiện đại của thế kỉ 20. Để kỷ niệm, hình ông được in lên tờ 10 franc của Thụy Sĩ và tên ông được đặt tên đường ở nhiều quốc gia.

Le Corbusier được mọi người biết đến như cha đẻ của mô hình Trung cư. Ông đã thiết kế và đưa ra những lý thuyết cơ bản về những dự án nhà ở công cộng. Yếu tố nổi bật của dự án này là thực sự phù hợp với mật độ dân cư rất lớn hiện nay.  Trong số những dự án của ông, có thiết kế gác xép thoáng đãng giữa những bức tường ngăn hay những hoạ tiết trang trí và bậu cửa sổ lớn có thể làm tăng ánh sáng cho không gian. Bê tông cốt thép cũng được đánh giá là điểm nổi bật trong những thiết kế của ông.

Le Corbusier tên khai sinh là Charles-Edouard Jeaneret, ông sinh năm 1887. Không chỉ dừng lại ở góc độ tình cảm khi người ta quan niệm “Mái ấm là nơi con tim ngự trị”, hơn thế nữa ông còn dựa trên quan điểm chức năng của nó, ngôi nhà –  nơi thể hiện cuộc sống có trật tự và phong cách sống gắn liền với công nghệ và kĩ thuật. Triết lý này đã có ảnh hưởng sâu rộng đến phong cách của nhiều thế hệ kiến trúc sư sau này. Le Corbusier cũng phát triển mô hình nhà xây dựng hàng loạt, góp phần đẩy nhanh tiến độ xây dựng nhà cửa sau chiến tranh TG thứ I và cải thiện mức sống cho những người dân có thu nhập thấp.

Thời trẻ, Le Corbusier theo học tại trường thủ công mỹ nghệ tại địa phương, dưới sự hướng dẫn của Charles L’Éplattenier người đã từng du học tại Budapest và Paris là các trung tâm nghệ thuật thời bấy giờ. Thời điểm đó, Le Corbusier đã bộc lộ rõ hứng thú nghiên cứu về cấu trúc hình học của các đối tượng cũng như việc ứng dụng kĩ thuật vào nghệ thuật.

 

Công trình đầu tiên của ông là biệt thự Fallet, biệt thự Schowb, biệt thự Jeanneret ở vùng núi La Chaux de Fonds đã thể hiện những giải pháp sáng tạo ở việc xử lí các chi tiết kỹ thuật. Những công trình đã sử dụng tài tình những ngôn ngữ của kiến trúc bản địa vùng núi Alps. Các công trình này dần dần đã thể hiện bước tiến trong tư duy về không gian kiến trúc với việc đơn giản hóa hình khối của trong kiến trúc.

 

 

Ham muốn khám phá đã thúc đẩy Le Corbusier rời quê nhà đi du lịch vòng quanh châu Âu. Năm 1907, Le Corbusier đến Paris và làm việc cho kiến trúc sư Auguste Perret, bậc thầy về sử dụng bê tông của kiến trúc Pháp giai đoạn đó. Từ tháng 10 năm 1910 đến tháng 3 năm 1911, Le Corbusier làm việc cho văn phòng của kiến trúc sư Peter Behrens, nhà tiên phong của kiến trúc hiện đại ở Đức ở Berlin. Tại đây ông đã gặp kiến trúc sư trẻ Ludwig Mies van der Rohe. Những sự kiện này đã có ảnh hưởng rõ rệt trong sự nghiệp của ông sau này. Vào cuối năm 1911, Le Corbusier đi du lịch các nước vùng Balkans, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ. Ông đã ký họa rất nhiều những gì ông nhìn thấy trong chuyến du lịch của mình, bao gồm những công trình nổi tiếng như đền Parthenon ở khu Acropolis (Athena, Hy Lạp). Những công trình mà sau này ông tán dương trong tác phẩm “Hướng về một nền kiến trúc” (Vers une architecture) viết năm 1923.

 

More Articles...

Đăng ký e-mail của bạn để nhận thông tin hữu ích từ Trung tâm Thiết kế Nội thất và Quảng cáo - Công ty Cổ phần Thương mại Hàng không Việt Nam - (04) 6662 6886